fbpx

THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VẬN HÀNH NHƯ THẾ NÀO?

Thị trường chứng khoán là một ví dụ tuyệt vời minh họa cho quy luật cung cầu trong thời gian thực.


IF AD460 BEAR O M 20180301173522 - Thị Trường Chứng Khoán Vận Hành Như Thế Nào? [P2]

Cung và cầu trên thị trường chứng khoán 

Mỗi giao dịch chứng khoán phải có người mua và người bán. Quy luật cung cầu là bất biến. Nếu một cổ phiếu nhất định có nhiều người mua hơn người bán, giá cổ phiếu sẽ có xu hướng tăng lên. Ngược lại, nếu người bán nhiều hơn người mua, giá cổ phiếu sẽ có xu hướng giảm xuống.

Chênh lệch giữa giá chào bán và chào mua (bid-ask hay bid-offer spread) là chênh lệch giữa mức giá cao nhất mà người mua sẵn sàng trả cho một cổ phiếu và mức giá thấp nhất mà một người bán chào bán cổ phiếu. Giao dịch diễn ra khi người mua chấp nhận giá chào bán hoặc người bán chấp nhận giá chào mua. Nếu người mua đông hơn người bán, họ có thể sẵn sàng tăng giá chào mua để mua được cổ phiếu; người bán, do đó, sẽ chào bán với mức giá cao hơn. Giá cổ phiếu tăng là vì vậy. Nếu người bán đông hơn người mua, người bán có thể sẵn sàng chấp nhận hạ giá chào bán cổ phiếu, trong khi người mua cũng sẽ hạ giá chào mua, buộc giá cổ phiếu giảm xuống.

Kết nối người mua với người bán

Việc kết nối giữa người mua và người bán cổ phiếu trên một sàn giao dịch ban đầu được thực hiện thủ công, nhưng giờ đây nó được thực hiện thông qua các hệ thống giao dịch trên máy vi tính. Phương thức giao dịch thủ công hoạt động dựa trên một hệ thống “đấu giá mở”, trong đó các nhà giao dịch sử dụng lời nói và tín hiệu bằng tay để mua và bán khối lượng lớn cổ phiếu trong “hố giao dịch” hoặc trên sàn giao dịch.

Tuy nhiên, hệ thống đấu giá mở đã được thay thế bởi các hệ thống giao dịch điện tử trên hầu hết các sàn giao dịch. Các hệ thống này có thể kết nối người mua và người bán với nhau một cách hiệu quả và nhanh chóng hơn nhiều so với con người, do đó đem đến những lợi ích đáng kể như chi phí giao dịch thấp hơn và thực hiện giao dịch nhanh hơn.

Tại sao đầu tư vào cổ phiếu? 

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, trong thời gian dài, cổ phiếu tạo ra lợi nhuận đầu tư vượt trội so với các loại tài sản khác. Lợi nhuận cổ phiếu đến từ lãi vốn và cổ tức. Lãi vốn xuất hiện khi bạn bán một cổ phiếu ở mức giá cao hơn mức giá mà bạn đã mua. Cổ tức là phần lợi nhuận mà một công ty phân phối cho các cổ đông của mình. Cổ tức là một thành phần quan trọng của lợi nhuận cổ phiếu. Kể từ năm 1926, cổ tức đóng góp gần 1/3 tổng lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu, trong khi lãi vốn chiếm 2/3, theo Chỉ số S&P Dow Jones.

Các nhà đầu tư muốn đưa ra những quyết định đầu tư đầy táo bạo, mạo hiểm cần phải có mức độ chấp nhận rủi ro cao. Những nhà đầu tư như vậy sẽ sẵn sàng thu phần lớn lợi nhuận của họ từ lãi vốn hơn là từ cổ tức. Mặt khác, các nhà đầu tư cẩn trọng và cần thu nhập từ danh mục đầu tư của mình có thể lựa chọn những cổ phiếu gắn với lịch sử trả cổ tức cao, lâu dài.

Vốn hóa thị trường và ngành

Image result for stock market images

Cổ phiếu có thể được phân loại theo nhiều cách, hai trong số những cách phổ biến nhất là phân loại theo vốn hóa thị trường và theo ngành.

Vốn hóa thị trường là tổng giá trị thị trường của số cổ phiếu đang lưu hành của một công ty và được tính bằng cách nhân số cổ phiếu này với giá thị trường hiện tại của một cổ phiếu. Mặc dù định nghĩa chính xác có thể khác nhau tùy thuộc vào thị trường, các công ty vốn hóa lớn thường được coi là những công ty có giá trị vốn hóa thị trường từ 10 tỷ USD trở lên, trong khi các công ty vốn hóa tầm trung có giá trị vốn hóa thị trường từ 2 tỷ đến 10 tỷ USD, và các công ty vốn hóa nhỏ có giá trị vốn hóa thị trường khoảng từ 300 triệu USD đến 2 tỷ USD.

Tiêu chuẩn được sử dụng để phân loại cổ phiếu theo ngành là Tiêu chuẩn phân loại ngành toàn cầu (GICS) được xây dựng bởi MSCI và Chỉ số S&P Dow Jones Indices vào năm 1999. Đây là một công cụ hiệu quả giúp xác định quy mô và sự phát triển của các ngành. GICS là một hệ thống phân loại ngành bốn tầng bao gồm 11 ngành và 24 nhóm ngành. 11 ngành là:

Năng lượng

Nguyên vật liệu

Công nghiệp

Hàng tiêu dùng không thiết yếu

Hàng tiêu dùng thiết yếu

Chăm sóc sức khỏe

Tài chính

Công nghệ thông tin

Dịch vụ truyền thông

Tiện ích

Bất động sản

Phân loại ngành này giúp các nhà đầu tư dễ dàng điều chỉnh danh mục đầu tư của họ theo mức độ chấp nhận rủi ro và ưu tiên đầu tư của mình. Ví dụ, các nhà đầu tư cẩn trọng và có nhu cầu thu nhập có thể cân nhắc xây dựng một danh mục đầu tư được cấu thành bởi những cổ phiếu trong các ngành ổn định hơn về giá và cổ tức hấp dẫn – được gọi là các ngành “phòng thủ” như hàng tiêu dùng thiết yêu, chăm sóc sức khỏe và tiện ích. Trong khi đó, các nhà đầu tư mạo hiểm có thể thích các lĩnh vực biến động hơn như công nghệ thông tin, tài chính và năng lượng.

Lợi ích của niêm yết cổ phiếu

Mục tiêu cuối cùng của một doanh nhân là nhìn thấy công ty của mình được niêm yết trên một sàn giao dịch chứng khoán có uy tín như Sàn giao dịch chứng khoán New York (NYSE) hoặc Nasdaq bởi điều này mang lại những lợi ích rõ ràng cho công ty của họ, bao gồm:

Niêm yết trên sàn chứng khoán nghĩa là các cổ phiếu được các cổ đông của công ty nắm giữ có thanh khoản lớn.

Nó cho phép công ty huy động thêm vốn bằng cách phát hành thêm cổ phiếu.

Có cổ phiếu giao dịch công khai giúp dễ dàng thiết lập các kế hoạch quyền chọn mua/bán cổ phiếu – đây là những điều cần thiết để thu hút nhân viên tài năng.

Các công ty được niêm yết có khả năng hiển thị lớn hơn trên thị trường; nhận định của các nhà phân tích và nhu cầu của các nhà đầu tư tổ chức có thể làm tăng giá cổ phiếu.

Cổ phiếu niêm yết có thể được sử dụng như tiền tệ khi công ty thực hiện các thương vụ mua lại, trong đó một phần hoặc tất cả chi phí được thanh toán bằng cổ phiếu.

Trước những lợi ích này của việc niêm yết, hầu hết các công ty lớn đều là các công ty giao dịch công khai chứ không phải tư nhân. Các công ty tư nhân quy mô khủng như tập đoàn nông nghiệp và thực phẩm khổng lồ Cargill, tập đoàn công nghiệp Koch Industries và nhà bán lẻ đồ nội thất DIY Ikea là một vài ngoại lệ.

Các vấn đề liên quan đến niêm yết trên sàn chứng khoán 

Niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán cũng có một số hạn chế như sau:

Chi phí đáng kể, chẳng hạn như phí niêm yết và chi phí tuân thủ và báo cáo cao hơn.

Các quy định phức tạp có thể hạn chế khả năng kinh doanh của công ty.

Trọng tâm ngắn hạn của hầu hết các nhà đầu tư buộc các công ty phải cố gắng đánh bại các ước tính thu nhập hàng quý của họ thay vì thực hiện các chiến lược dài hạn.

Nhiều startup khổng lồ (còn được gọi là các “kỳ lân” vì chúng có giá trị lớn hơn 1 tỷ USD – và đây là trường hợp cực kỳ hiếm gặp) như Uber (định giá tháng 11/2018 là 76 tỷ USD) và Airbnb (định giá tháng 6/2018 là 31 tỷ USD) chọn trì hoãn thời gian niêm yết so với các startup một hoặc hai thập kỷ trước. Trì hoãn lên sàn một phần đến từ những hạn chế được liệt kê ở trên, nhưng lý do chính có thể là do các startup này – với bộ máy vận hành hiệu quả và giải pháp kinh doanh hấp dẫn – có thể tiếp cận được số vốn lớn chưa từng có từ các quỹ đầu tư quốc gia, vốn cổ phần tư nhân và các nhà đầu tư mạo hiểm. Do đó, IPO và niêm yết trên sàn chứng khoán không còn là một điều quá cấp bách đối với họ.

Số lượng các công ty giao dịch công khai ở Hoa Kỳ cũng đang thu hẹp đáng kể, từ 8.090 năm 1996 xuống còn 4.336 trong năm 2017 – theo một bài báo của Financial Times trích dẫn dữ liệu của World Bank.

Chỉ số thị trường chứng khoán 

Chỉ số thị trường là một thước đo hiệu suất thị trường chứng khoán phổ biến. Hầu hết các chỉ số thị trường đều dựa trên giá trị vốn hóa thị trường, có nghĩa là trọng số của từng thành phần của chỉ số tỷ lệ thuận với vốn hóa thị trường của nó. Một số ít chỉ số như Chỉ số Trung bình Công nghiệp Dow Jones (DJIA) lại dựa vào giá cả. Ngoài DJIA, các chỉ số được theo dõi rộng rãi khác ở Hoa Kỳ và quốc tế bao gồm:

S&P 500

Tổng hợp Nasdaq

Chỉ số Russell (Russell 1000, Russell 2000)

Tổng hợp TSX (Canada)

Chỉ số FTSE (Anh)

Nikkei 225 (Nhật Bản)

Chỉ số Dax (Đức)

Chỉ số CAC 40 (Pháp)

Chỉ số CSI 300 (Trung Quốc)

Sensex (Ấn Độ)

Thị trường chứng khoán lớn nhất

Image result for stock market images

Sàn giao dịch chứng khoán đã tồn tại hơn hai thế kỷ. Sàn giao dịch chứng khoán New York (NYSE) khởi đầu từ năm 1792 khi hai chục nhà môi giới gặp nhau ở Lower Manhattan và ký một thỏa thuận để giao dịch chứng khoán trên cơ sở trả tiền hoa hồng. Năm 1817, các nhà môi giới chứng khoán ở New York hoạt động theo thỏa thuận này đã thực hiện một số thay đổi quan trọng và tổ chức lại thành Hội đồng giao dịch chứng khoán New York.

Thị trường chứng khoán vận hành như thế nào

NYSE và Nasdaq là hai sàn giao dịch chứng khoán lớn nhất thế giới, dựa trên tổng giá trị vốn hóa thị trường của tất cả các công ty được niêm yết trên sàn giao dịch. Số lượng sàn giao dịch chứng khoán của Hoa Kỳ tăng lên trong những năm gần đây. IEX Group trở thành sàn giao dịch thứ 13 vào tháng 8/2016. Dưới đây là danh sách 15 sàn giao dịch lớn nhất thế giới được xếp hạng theo tổng giá trị vốn hóa thị trường của các công ty được niêm yết.

Giá trị vốn hóa thị trường (triệu USD)
 

SÀN GIAO DỊCH

 

Địa điểm

 

Giá trị vốn hóa thị trường.*

 

NYSE

 

Mỹ

 

24.223.206,0

 

Nasdaq – US

 

Mỹ

 

11.859.513,5

 

Japan Exchange Group Inc.

 

Nhật Bản

 

6.180.043,0

 

Shanghai Stock Exchange

 

Trung Quốc

 

4.386.030,6

 

Euronext

 

Châu Âu

 

4.377.263,3

 

LSE Group

 

Vương Quốc Anh

 

4.236.193,9

 

Hong Kong Exchanges and Clearing

 

Hồng Kông

 

4.111.111,7

 

Shenzhen Stock Exchange

 

Trung Quốc

 

2.691.604,5

 

TMX Group

 

Canada

 

2.288.165,4

 

Deutsche Boerse AG

 

Đức

 

2.108.114,4

 

BSE India Limited

 

Ấn Độ

 

1.999.346,5

 

National Stock Exchange of India Limited

 

Ấn Độ

 

1.973.824,0

 

Korea Exchange

 

Hàn Quốc

 

1.661.151,7

 

SIX Swiss Exchange

 

Thụy Sỹ

 

1.598.381,5

 

Nasdaq Nordic Exchanges

 

Bắc Âu / Các nước Baltic

 

1.516.445,6

 

Australian Securities Exchange

 

Úc

 

1.429.471,0

 

Taiwan Stock Exchange

 

Đài Loan

 

1.084.507,3

 

Johannesburg Stock Exchange

 

Nam Mỹ

 

988.338,8

 

BME Spanish Exchanges

 

Tây Ban Nha

 

808.321,4

 

BM&FBOVESPA S.A.

 

Brazil

 

804.106,3

 

* Tính đến tháng 9/2018